Công tác dân tộc ở phía Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, góp phần quy tụ đồng bào các dân tộc thiểu số vào sự nghiệp đấu tranh chung vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.
Công tác dân tộc: Mặt trận đặc biệt quan trọng
Chiến thắng ngày 30/4/1975 là kết tinh của đường lối cách mạng đúng đắn, của sức mạnh chiến tranh nhân dân và đặc biệt là của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong dòng chảy lịch sử đó, công tác dân tộc ở phía Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, góp phần quy tụ đồng bào các dân tộc thiểu số vào sự nghiệp đấu tranh chung vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.
Sáng 13/5/1975, các lãnh đạo Trung ương Cục và quân dân miền Nam ra sân bay Tân Sơn Nhất đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng dẫn đầu đoàn đại biểu BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào dự lễ mừng chiến thắng tại Sài Gòn. Ảnh: Văn Bảo - TTXVN
Phía Nam Việt Nam là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt. Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và các vùng biên giới là nơi sinh sống của nhiều dân tộc như Ba Na, Ê Đê, Gia Rai, M’nông, Xơ Đăng, Khmer, Chăm, Hoa và nhiều cộng đồng khác. Đây vừa là địa bàn cư trú lâu đời của đồng bào, vừa là vùng căn cứ, hành lang chiến lược, nơi có ý nghĩa lớn về quân sự, chính trị và hậu cần. Chính vì vậy, trong suốt cuộc chiến tranh, Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn tìm cách lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán để chia rẽ đồng bào, cô lập cách mạng, phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc anh em.
Trước âm mưu đó, Đảng ta xác định công tác dân tộc là một bộ phận quan trọng của công tác vận động quần chúng và xây dựng căn cứ cách mạng. Cốt lõi của công tác dân tộc là đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc; chống mọi biểu hiện kỳ thị, chia rẽ; đồng thời chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và quyền lợi chính đáng của đồng bào.
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, công tác dân tộc đã trở thành một mặt trận đặc biệt quan trọng trong chiến lược đoàn kết toàn dân của Đảng. Nhiều cán bộ là người dân tộc thiểu số được Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo) cử vào Nam công tác, trực tiếp bám buôn, bám sóc, gây dựng cơ sở cách mạng, vận động đồng bào đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do.
Ở Tây Nguyên, từ những nóc nhà dài của đồng bào Ê Đê, những buôn làng của người Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng… đến các bản làng nơi đại ngàn, phong trào cách mạng từng bước bén rễ sâu, tạo nên những căn cứ địa vững chắc. Mỗi buôn làng trở thành một pháo đài lòng dân, mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận giữ đất, giữ làng, nuôi giấu cán bộ, tiếp tế lương thực, dẫn đường cho bộ đội.
Bộ đội địa phương giải phóng Cà Mau ngày 1/5/1975. Ảnh: Vũ Tạo - TTXVN
Ở Tây Nam Bộ, hệ thống các ban Khmer vận động từ tỉnh đến cơ sở được xây dựng và phát huy hiệu quả, quy tụ sức mạnh của đồng bào Khmer, tạo nên thế trận đoàn kết rộng khắp, góp phần làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ dân tộc. Cán bộ cách mạng không chỉ tuyên truyền chủ trương, đường lối, mà còn bám buôn, bám sóc, cùng ăn, cùng ở, cùng lao động, cùng chiến đấu với nhân dân. Chính sự gắn bó chân thành ấy đã tạo nên niềm tin bền chặt giữa đồng bào các dân tộc với cách mạng.
Địa bàn Tây Nguyên là địa bàn chiến lược nối liền Bắc - Nam, gắn với tuyến vận tải Trường Sơn và nhiều căn cứ cách mạng quan trọng. Mỹ và chính quyền Sài Gòn từng ra sức thực hiện các chính sách “bình định”, lập ấp chiến lược, cưỡng bức di dân, kích động tư tưởng ly khai để tách đồng bào khỏi cách mạng. Tuy nhiên, bằng đường lối vận động đúng đắn, nhiều buôn làng đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho lực lượng kháng chiến.
Những anh hùng người dân tộc
Một trong những tấm gương tiêu biểu nhất của đồng bào Tây Nguyên là Anh hùng Núp, người dân tộc Ba Na ở làng Stơr, Gia Lai. Từ nhỏ, ông đã chứng kiến cảnh đồng bào bị áp bức, bóc lột, từ đó sớm hình thành ý chí chống ngoại xâm. Với niềm tin “có Đảng, có Bác Hồ”, Anh hùng Núp đã vận động dân làng đoàn kết, dùng vũ khí thô sơ như chông, cung tên, bẫy đá để chống giặc. Câu chuyện về ông không chỉ nổi bật ở lòng dũng cảm cá nhân, mà còn thể hiện sức mạnh của cả một buôn làng khi được giác ngộ cách mạng. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và về sau còn tham gia Quốc hội, trở thành biểu tượng lớn của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong sự nghiệp cách mạng.
Anh hùng Núp, Anh hùng Rơ Chăm Ơk, Kpă Klơng, Kpuih Thu và ông Nguyễn Thế Minh tại mặt trận B3 năm 1972. Ảnh trưng bày tại triển lãm giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng Đinh Núp do Hội Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Gia Lai tổ chức
Bên cạnh Anh hùng Núp, Y Bih Alêô, người Ê Đê ở Đắk Lắk, cũng là một tấm gương tiêu biểu về công tác dân tộc và đại đoàn kết. Ông sinh năm 1901 tại Buôn Niêng, nay thuộc khu vực Buôn Ma Thuột. Là người có học, am hiểu tiếng nói, phong tục và đời sống của đồng bào Ê Đê, Y Bih Alêô từng được chính quyền thực dân trọng dụng nhưng đã sớm nhận ra thân phận mất nước của dân tộc mình. Ông chống lại việc đàn áp nhân dân và bị bắt giam. Về sau, ông trở thành cán bộ Mặt trận tiêu biểu, giữ nhiều vị trí quan trọng trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, đại diện cho tiếng nói của các dân tộc Tây Nguyên yêu nước. Cuộc đời ông cho thấy công tác dân tộc muốn thành công phải dựa vào những người có uy tín, có hiểu biết và có khả năng kết nối cách mạng với đồng bào.
Ở Tây Nam Bộ, tấm gương Néang Nghés, nữ anh hùng người Khmer ở An Giang là minh chứng xúc động cho lòng trung thành với cách mạng. Chị sinh năm 1942 tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn (cũ) trong một gia đình Khmer nghèo. Trong kháng chiến chống Mỹ, chị tham gia hoạt động cách mạng, bảo vệ cơ sở, giữ liên lạc và vận động quần chúng. Khi bị địch bắt, tra tấn, ép khai báo cơ sở cách mạng, chị vẫn kiên quyết không khuất phục. Sự hy sinh của Néang Nghés trở thành biểu tượng đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ: gan góc, trung hậu, nghĩa tình và tuyệt đối trung thành với cách mạng. Hiện nay, khu tưởng niệm nữ liệt sĩ Néang Nghés tại An Giang là một “địa chỉ đỏ”, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng và tinh thần đoàn kết Kinh - Khmer.
Một tấm gương khác của đồng bào Khmer Nam Bộ là Sơn Ton, người con của Trà Vinh. Sinh ra trong một gia đình Khmer nghèo, từ nhỏ ông đã trải qua cuộc sống cơ cực, phải lưu lạc làm thuê, ở đợ. Chính hoàn cảnh ấy giúp ông thấu hiểu nỗi khổ của người dân mất nước, từ đó đến với cách mạng. Sơn Ton tham gia kháng chiến, chiến đấu, vận động đồng bào Khmer đi theo cách mạng, góp phần xây dựng cơ sở ở vùng Tây Nam Bộ. Ông được nhắc đến như một trong những anh hùng Khmer tiêu biểu của miền Nam, từng có vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tấm gương Sơn Ton cho thấy đồng bào Khmer không đứng ngoài cuộc kháng chiến mà là lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu, bảo vệ cơ sở, giữ gìn phong trào cách mạng trong vùng địch kiểm soát.
Kết tinh sức mạnh, chiến thắng bùng nổ
Những tấm gương như Anh hùng Núp, Y Bih Alêô, Néang Nghés, Sơn Ton cho thấy công tác dân tộc phía Nam trong kháng chiến chống Mỹ không phải là công việc tuyên truyền đơn thuần. Đó là quá trình xây dựng niềm tin chính trị, khơi dậy lòng yêu nước, phát huy vai trò chủ thể của đồng bào các dân tộc. Cán bộ cách mạng không thể chỉ nói bằng khẩu hiệu, mà phải chứng minh bằng hành động: bảo vệ dân, tôn trọng phong tục, giúp dân sản xuất, chữa bệnh, học chữ, đấu tranh chống áp bức, chống bắt lính, chống dồn dân lập ấp. Nhờ đó, nhiều buôn làng, phum sóc trở thành “thế trận lòng dân” vững chắc. Và đồng bào dân tộc không chỉ nuôi giấu cán bộ, dẫn đường, tải lương thực, chuyển thương binh, bảo vệ căn cứ, mà còn trực tiếp cầm súng chiến đấu, tham gia du kích, binh vận, đấu tranh chính trị và xây dựng vùng giải phóng…
Phụ nữ Tây Nam Bộ phát huy khí thế tiến công của “đội quân tóc dài”, đóng góp vào thành công chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ảnh tư liệu
Những hạt mầm của niềm tin, của đoàn kết và của thế trận lòng dân được vun đắp bền bỉ qua năm tháng ấy đã kết tinh thành sức mạnh bùng nổ trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Đặc biệt, Chiến thắng Buôn Ma Thuột - đòn tiến công chiến lược làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của chính quyền Sài Gòn ở Tây Nguyên - không chỉ là thắng lợi của nghệ thuật quân sự, mà còn là kết quả của cả một quá trình gây dựng phong trào cách mạng trong đồng bào các dân tộc suốt nhiều năm. Sau mỗi bước tiến thần tốc của quân giải phóng là bóng dáng âm thầm nhưng bền bỉ của những buôn làng chở che cách mạng, của những đồng bào một lòng theo Đảng, của khối đại đoàn kết được hun đúc bằng máu, bằng niềm tin và bằng khát vọng cháy bỏng về một ngày non sông liền một dải.
Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được quan tâm. Trong ảnh: Đoàn nghệ nhân Gia Rai - xã Ia Khươl trình diễn cồng chiêng tại Ngày hội Văn hoá các dân tộc tỉnh Gia Lai lần thứ 1 năm 2026
Có thể nói, công tác dân tộc phía Nam đã góp phần làm thất bại âm mưu chia rẽ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Những luận điệu “tự trị”, “bảo vệ dân tộc thiểu số” hay kích động hằn thù dân tộc đều không thể thắng được chính sách đoàn kết, bình đẳng và nghĩa tình cách mạng. Đồng bào các dân tộc hiểu rằng chỉ có độc lập dân tộc và thống nhất đất nước mới bảo đảm quyền sống, quyền làm chủ và tương lai phát triển cho mọi cộng đồng.
Diện mạo vùng đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ ngày càng khởi sắc. Ảnh tư liệu
Trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công tác dân tộc phải tiếp tục đặt trên nền tảng đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng, chăm lo đời sống nhân dân và phát huy vai trò chủ thể của đồng bào. Khi lòng dân được quy tụ, khi các dân tộc cùng chung mục tiêu độc lập, hòa bình và phát triển, sức mạnh Việt Nam sẽ luôn được nhân lên.
VŨ MẠNH HÀ - THÁI AN (VIETNAMNET)