TPHCM hướng tới chuẩn hóa công nghệ Metro, xây dựng bộ tiêu chuẩn chung để kết nối các tuyến, giảm chi phí vận hành và từng bước làm chủ công nghệ.
Không thể mỗi tuyến một chuẩn
Các tuyến đường sắt đô thị tại Việt Nam hiện sử dụng nhiều tiêu chuẩn, công nghệ khác nhau, gây khó khăn trong kết nối, vận hành và sử dụng chung linh kiện, thiết bị.
Tại TPHCM, Metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) chủ yếu áp dụng tiêu chuẩn Nhật Bản và Việt Nam, kết hợp một số tiêu chuẩn Âu Mỹ, sử dụng điện 1.500V DC qua đường dây trên cao, tự động hóa mức GoA2 và có cửa chắn ke ga.
Trong khi đó, Metro số 2 (Bến Thành - Tham Lương) đang được triển khai theo định hướng ưu tiên tiêu chuẩn Việt Nam, bổ sung tiêu chuẩn Âu Mỹ. Đoàn tàu loại tương thích tiêu chuẩn, sử dụng cấp điện 1.500V DC bằng mạng điện trên cao và hướng tới mức độ tự động hóa GoA4.
TPHCM xác định quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật của Metro số 2 (Bến Thành - Tham Lương) làm cơ sở xây dựng bộ tiêu chuẩn chung cho toàn mạng lưới Metro.
Tuyến Metro Thành phố mới Bình Dương - Suối Tiên được quy hoạch nối dài Metro số 1 nên phải bảo đảm kết nối, vận hành liên thông. Tuy nhiên, áp dụng toàn bộ công nghệ của Metro số 1 có thể gây khó khăn cho việc chuẩn hóa toàn mạng lưới metro TPHCM.
Do đó, đơn vị tư vấn đề xuất Metro Thành phố Mới Bình Dương - Suối Tiên áp dụng công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật chung theo định hướng của TPHCM, tham chiếu tiêu chuẩn kỹ thuật của Metro số 2 (Bến Thành - Tham Lương).
Tư vấn tuyến Metro số 6 (Tân Sơn Nhất - Phú Hữu) và Metro Thủ Dầu Một - TPHCM cũng đề xuất áp dụng tiêu chuẩn, công nghệ theo định hướng của Metro số 2.
Từng bước làm chủ công nghệ
Ông Phan Công Bằng - Trưởng Ban Quản lý Đường sắt đô thị TPHCM cho biết, thành phố đẩy mạnh nội địa hóa metro nhằm giảm phụ thuộc công nghệ, thiết bị nước ngoài.
Hiện nhà thầu Việt Nam có thể đảm nhận gần 100% khối lượng xây dựng cầu cạn. Với công trình ngầm, nhà thầu trong nước sẽ giữ vai trò chính, phối hợp chuyên gia nước ngoài để từng bước làm chủ công nghệ khoan hầm.
Thông qua việc tham gia dự án Metro số 1 tại TPHCM, một số nhà thầu Việt Nam đã tiếp cận công nghệ khoan hầm, có khả năng đảm nhận các hạng mục chính, bao gồm sản xuất vỏ hầm. “Về phần xây lắp, chúng ta đã có thể làm chủ được khoảng 80 - 90% hệ thống xây dựng” - ông Bằng nói.
Cũng theo ông Phan Công Bằng, TPHCM hướng đến nội địa hóa hệ thống ray, đầu máy, toa xe, thông tin tín hiệu và các thiết bị khác. Ban Quản lý Đường sắt đô thị TPHCM đang xây dựng đề án nội địa hóa gắn với mua sắm tập trung, theo hướng áp dụng thống nhất tiêu chuẩn châu Âu giữa các tuyến metro, tạo điều kiện kết nối và vận hành liên thông.
Dự kiến, tuyến Metro Thành phố mới Bình Dương - Suối Tiên và tuyến Thủ Dầu Một - TPHCM có thể vận hành liên thông trên đoạn từ ga S0 đến S5. Trong khi đó, tuyến Metro số 6 kết nối sân bay Tân Sơn Nhất với ga Phú Hữu được tính toán liên thông với tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành, cho phép một số chuyến tàu chạy thẳng từ sân bay Tân Sơn Nhất đến sân bay Long Thành.
Để triển khai, đơn vị đã tiếp xúc, đánh giá năng lực một số doanh nghiệp trong nước có khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Trong đó, Tập đoàn Hòa Phát đang xây dựng nhà máy sản xuất ray, dự kiến có sản phẩm đầu tiên vào đầu năm 2027. Nếu đáp ứng yêu cầu chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật, sản phẩm có thể được xem xét sử dụng theo quy định.
Đối với đầu máy, toa xe và thiết bị, Tập đoàn Trường Hải (Thaco) cũng đang xúc tiến chuyển giao công nghệ, hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài để từng bước tham gia sản xuất, cung ứng cho các dự án đường sắt.
Theo ông Bằng, nội địa hóa metro là quá trình dài hạn, đòi hỏi sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà thầu và doanh nghiệp. Việc TPHCM triển khai đồng loạt nhiều tuyến metro trong thời gian tới sẽ tạo thị trường đủ lớn để doanh nghiệp Việt Nam tích lũy kinh nghiệm, tiếp nhận công nghệ và từng bước hình thành ngành công nghiệp đường sắt trong nước.
Chuẩn hóa để giảm chi phí, tăng nội địa hóa
PGS.TS Vũ Anh Tuấn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giao thông-Vận tải, Trường ĐH Việt Đức - cho rằng, nếu không chuẩn hóa công nghệ ngay từ đầu, chi phí quản lý, vận hành và bảo trì về sau có thể rất lớn, trong khi việc sử dụng công nghệ nước ngoài sẽ tiếp tục phụ thuộc vào nhà cung cấp.
“Khi chuẩn hóa được một khung công nghệ, việc tham gia của các doanh nghiệp trong nước vào quá trình nội địa hóa sẽ thuận lợi hơn. Khi đó có thể hình thành các sản phẩm, linh kiện đồng bộ, phục vụ cho nhiều tuyến trong cùng một mạng lưới” - ông Tuấn nhận định.
Minh Quân (Lao động)