CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

hdnd.hochiminhcity.gov.vn

BAN ĐÔ THỊ HĐND THÀNH PHỐ: TỪ LUẬT PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN THỰC TIỄN - TP. HỒ CHÍ MINH HOÀN THIỆN CƠ CHẾ XỬ LÝ CÔNG TRÌNH, CƠ SỞ VI PHẠM

  • Lượt xem - 285

Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại Kỳ họp thứ năm, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND quy định việc áp dụng biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Nghị quyết được ban hành nhằm cụ thể hóa khoản 2 Điều 16 Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, tạo thêm công cụ pháp lý để chính quyền Thành phố xử lý những trường hợp vi phạm trong xây dựng, đất đai, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường nhưng không chấp hành yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; qua đó góp phần bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố.

Điểm đáng chú ý là Nghị quyết không đặt ra cơ chế “cắt điện, cắt nước” tùy nghi. Biện pháp này chỉ được áp dụng đối với những trường hợp cụ thể được pháp luật xác định, theo đúng thẩm quyền và một trình tự chặt chẽ, đồng thời có cơ chế chấm dứt, tạm dừng và cung cấp lại dịch vụ khi vi phạm đã được khắc phục.

Tám nhóm trường hợp có thể bị ngừng cung cấp điện, nước

Một trong những nội dung người dân và doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý là Điều 3 Nghị quyết quy định cụ thể các căn cứ áp dụng biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước:

Thứ nhất, vi phạm về quy hoạch và giấy phép xây dựng: Công trình xây dựng không đúng quy hoạch hoặc thuộc trường hợp phải có giấy phép nhưng chưa được cấp giấy phép, đã được cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chấm dứt vi phạm hoặc dừng thi công bằng văn bản nhưng vẫn không chấp hành thì có thể bị áp dụng biện pháp ngừng cung cấp điện, nước.

Thứ hai, xây dựng sai giấy phép hoặc sai thiết kế đã được phê duyệt: Nghị quyết xác định khá cụ thể các nội dung sai phạm như thay đổi vị trí xây dựng, chỉ giới xây dựng, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, diện tích sàn, số tầng, chiều cao công trình; thay đổi hình thức kiến trúc tại khu vực có yêu cầu quản lý kiến trúc; thay đổi giải pháp kết cấu chính hoặc phân khu chức năng bên trong công trình.

Thứ ba, xây dựng trên đất bị lấn, chiếm: Công trình xây dựng trên diện tích đất bị lấn, chiếm, đã được yêu cầu chấm dứt vi phạm hoặc dừng thi công nhưng không chấp hành cũng thuộc trường hợp có thể áp dụng biện pháp này.

Thứ tư và thứ năm, vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong hoạt động xây dựng: Đó là trường hợp công trình thuộc diện phải thẩm duyệt hoặc thẩm định thiết kế về phòng cháy, chữa cháy nhưng vẫn thi công khi chưa hoàn thành thủ tục; hoặc công trình thi công không đúng thiết kế về phòng cháy, chữa cháy đã được thẩm duyệt, thẩm định, sau khi đã có yêu cầu dừng thi công mà vẫn không chấp hành.

Thứ sáu, cơ sở kinh doanh karaoke, vũ trường không bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy: Biện pháp có thể được áp dụng khi cơ sở đã bị đình chỉ nhưng vẫn tiếp tục hoạt động hoặc không thực hiện yêu cầu bằng văn bản về khắc phục các điều kiện an toàn phòng cháy, chữa cháy.

Thứ bảy, vi phạm nghiêm trọng về môi trường: Nghị quyết bao quát các hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn, phát tán bụi, khí thải nguy hại, hoạt động không có giấy phép môi trường hoặc đăng ký môi trường theo quy định, vi phạm việc thu gom, lưu giữ, xử lý chất thải và không chấp hành yêu cầu dừng vi phạm, quyết định đình chỉ hoặc biện pháp khắc phục hậu quả của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tám, công trình phải phá dỡ, di dời khẩn cấp nhưng không chấp hành: Trường hợp công trình đã có quyết định di dời khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân đã được vận động, thuyết phục nhưng vẫn không thực hiện thì cũng thuộc phạm vi áp dụng.

Như vậy, điểm xuyên suốt của Nghị quyết là: không phải cứ phát hiện vi phạm là lập tức ngừng điện, nước. Trong phần lớn trường hợp, tổ chức, cá nhân phải đã được yêu cầu chấm dứt vi phạm, dừng thi công, đình chỉ hoạt động hoặc khắc phục bằng văn bản nhưng vẫn không chấp hành.

Chủ tịch UBND cấp xã là người quyết định

Một điểm mới đáng chú ý là thẩm quyền được xác định rất rõ. Theo Điều 4, Chủ tịch UBND cấp xã là người có thẩm quyền quyết định áp dụng, chấm dứt, tạm dừng hoặc tiếp tục thực hiện biện pháp ngừng cung cấp điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc địa bàn quản lý.

Đối với công trình hoặc cơ sở nằm trên địa giới từ hai xã, phường trở lên, Chủ tịch UBND cấp xã nơi có diện tích khu đất xây dựng lớn hơn chịu trách nhiệm áp dụng biện pháp và thông tin cho các địa phương liên quan phối hợp.

Quy định này vừa xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền cơ sở, vừa hạn chế tình trạng đùn đẩy hoặc chồng chéo trách nhiệm khi xử lý vi phạm.

Không được tùy tiện ngừng điện, nước: phải có kiểm tra, biên bản và quyết định

Nghị quyết thiết lập một quy trình tương đối chặt chẽ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi xác định vi phạm thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp, người có thẩm quyền thi hành công vụ phải kiểm tra, lập biên bản và yêu cầu tổ chức, cá nhân chấm dứt vi phạm, dừng thi công hoặc dừng hoạt động. Nếu trước đó đã có biên bản vi phạm hành chính thì không phải lập lại biên bản làm việc.

Sau khi xác định tổ chức, cá nhân không chấp hành, hồ sơ được chuyển cho Chủ tịch UBND cấp xã. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, Chủ tịch UBND cấp xã xem xét và ban hành quyết định áp dụng biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước.

Quyết định phải xác định rõ công trình, cơ sở bị áp dụng; địa chỉ, điểm cung cấp; loại dịch vụ bị ngừng; căn cứ pháp lý; mã khách hàng; hợp đồng cung cấp và số đồng hồ điện, nước. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chính xác đối tượng, tránh áp dụng nhầm hoặc ảnh hưởng đến tổ chức, cá nhân không liên quan.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định, đơn vị cung cấp điện hoặc nước có trách nhiệm thực hiện việc ngừng cung cấp đúng công trình, đúng loại dịch vụ, phạm vi và nội dung của quyết định.

Khắc phục vi phạm thì được cung cấp lại điện, nước

Nghị quyết không chỉ quy định cách áp dụng mà còn xác định rất rõ con đường để tổ chức, cá nhân khắc phục vi phạm và được phục hồi dịch vụ. Tùy từng trường hợp, căn cứ để chấm dứt biện pháp có thể là giấy phép xây dựng hoặc giấy phép điều chỉnh; thiết kế điều chỉnh đã được phê duyệt; biên bản xác nhận đã tháo dỡ phần công trình vi phạm; xác nhận đã trả lại đất lấn, chiếm; văn bản về phòng cháy, chữa cháy; hoặc biên bản của cơ quan có thẩm quyền ghi nhận việc đã khắc phục vi phạm về môi trường.

Đối với cơ sở karaoke, vũ trường, nếu đã khắc phục nguyên nhân dẫn đến đình chỉ hoặc thực hiện đầy đủ yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy và được cơ quan quản lý xác nhận thì có căn cứ chấm dứt việc ngừng điện, nước.

Khi nhận được tài liệu chứng minh đã khắc phục, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra. Chủ tịch UBND cấp xã sau đó ra quyết định chấm dứt biện pháp; và trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định này, đơn vị cung cấp dịch vụ phải cung cấp lại điện, nước theo quy định và hợp đồng dịch vụ. 57.NQ-ngung dien nuoc.

Đây là điểm thể hiện khá rõ tinh thần của Nghị quyết: biện pháp ngừng điện, nước hướng tới buộc chấm dứt vi phạm và lập lại trật tự, không phải một biện pháp duy trì vô thời hạn sau khi chủ thể đã khắc phục.

Có cơ chế tạm dừng để tạo điều kiện tự khắc phục

Một điểm đáng chú ý khác là Điều 8 cho phép Chủ tịch UBND cấp xã xem xét tạm dừng việc thực hiện quyết định ngừng cung cấp điện, nước trong một số trường hợp. Chẳng hạn, chủ đầu tư có văn bản cam kết tự nguyện phá dỡ hoặc thực hiện giải pháp khắc phục; cơ sở kinh doanh đã hoàn thiện hồ sơ thẩm định, thẩm duyệt phòng cháy, chữa cháy cần thiết; hoặc xảy ra trường hợp khẩn cấp, sự cố, bất khả kháng hay hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật về xây dựng.

Trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ tài liệu phù hợp, Chủ tịch UBND cấp xã có thể ban hành thông báo tạm dừng thực hiện quyết định.

Tuy nhiên, đây không phải là “khoảng nghỉ” để kéo dài vi phạm. Khi hết thời hạn tạm dừng, cơ quan chức năng phải kiểm tra lại. Nếu tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cam kết, quyết định ngừng điện, nước sẽ tiếp tục được thực hiện.

Cơ chế này tạo ra sự cân bằng cần thiết giữa tính nghiêm minh của pháp luật và cơ hội tự giác khắc phục vi phạm.

Đô thị Thành phố Hồ Chí Minh

Ngừng điện, nước phải đúng đối tượng và bảo đảm an toàn

Nghị quyết đặt trách nhiệm cụ thể đối với tổ chức, cá nhân cung cấp điện, nước.Việc thực hiện phải bảo đảm an toàn kỹ thuật, an toàn cho con người, tài sản và hệ thống cung cấp dịch vụ; đặc biệt không được làm ảnh hưởng đến công trình, cơ sở, tổ chức, cá nhân không thuộc đối tượng bị áp dụng. Khi phải thực hiện thao tác kỹ thuật tại khu vực công cộng hoặc hạ tầng kỹ thuật, đơn vị cung cấp dịch vụ còn phải tuân thủ pháp luật về giao thông, xây dựng và các quy định liên quan.

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng, bởi điện và nước là những dịch vụ thiết yếu, việc áp dụng biện pháp quản lý phải bảo đảm chính xác về đối tượng và an toàn trong quá trình thực hiện.

Người vi phạm phải chịu chi phí phát sinh do không chấp hành

Nghị quyết cũng xác lập rõ trách nhiệm tài chính. Tổ chức, cá nhân bị áp dụng biện pháp có trách nhiệm chấp hành quyết định, chấm dứt vi phạm, khắc phục hậu quả, phá dỡ hoặc di dời theo yêu cầu. Trường hợp không chấp hành yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì phải chịu toàn bộ chi phí liên quan đến việc ngừng, tạm dừng, cung cấp lại điện, nước và tái lập mặt đường nếu có.

Quy định này góp phần bảo đảm nguyên tắc: chi phí phát sinh từ việc cố tình không chấp hành pháp luật không chuyển thành gánh nặng cho ngân sách hoặc cộng đồng.

Không thay thế xử phạt vi phạm hành chính

Cử tri, người dân và doanh nghiệp cũng cần lưu ý một điểm rất quan trọng: ngừng cung cấp điện, nước không phải là hình thức thay thế cho xử phạt vi phạm hành chính.

Nghị quyết khẳng định rõ biện pháp ngừng cung cấp điện, nước vẫn được thực hiện song song với việc xử lý vi phạm hành chính theo pháp luật khi có căn cứ. Điều này có nghĩa một chủ thể vi phạm không thể hiểu rằng “bị ngừng điện, nước là đã xử lý xong”.

Tăng trách nhiệm của chính quyền cơ sở, đồng thời tăng kiểm tra và giám sát

Nghị quyết giao UBND Thành phố tổ chức triển khai thống nhất; kiểm tra, thanh tra và xử lý trách nhiệm đối với trường hợp chậm trễ hoặc thực hiện không đúng; xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về các trường hợp áp dụng và chấm dứt biện pháp; đồng thời hằng năm báo cáo HĐND Thành phố. UBND cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đúng thẩm quyền, theo dõi quá trình ngừng, tạm dừng và cung cấp lại dịch vụ.

Quá trình thực hiện còn đặt dưới sự giám sát của Thường trực HĐND Thành phố, các Ban HĐND, Tổ đại biểu, đại biểu HĐND Thành phố, Ủy ban MTTQ Việt Nam Thành phố và các tổ chức thành viên.

Đây là cơ chế cần thiết nhằm bảo đảm một biện pháp quản lý có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và quyền sử dụng dịch vụ thiết yếu phải được thực hiện đúng căn cứ, đúng thẩm quyền, minh bạch và có trách nhiệm giải trình.

Từ xử lý vi phạm đến xây dựng kỷ cương đô thị

Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2026. Nghị quyết được HĐND Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI, Kỳ họp thứ năm thông qua ngày 22 tháng 9 năm 2026. Biện pháp ngừng cung cấp điện, nước theo Nghị quyết không thay thế việc xử phạt vi phạm hành chính.

Ý nghĩa của Nghị quyết không chỉ nằm ở việc bổ sung thêm một biện pháp xử lý. Quan trọng hơn, đây là sự cụ thể hóa một cơ chế được Luật Phát triển đô thị giao cho Thành phố, hướng tới nâng cao hiệu lực quản lý đối với những hành vi vi phạm đã được yêu cầu chấm dứt nhưng vẫn cố tình không chấp hành.

Đối với người dân và doanh nghiệp, thông điệp của chính sách khá rõ ràng: vi phạm phải được phát hiện và xử lý đúng trình tự; cơ quan nhà nước không được tùy tiện áp dụng biện pháp; người vi phạm có cơ hội và trách nhiệm khắc phục; khi đã khắc phục đúng quy định thì dịch vụ phải được khôi phục kịp thời.

Đối với chính quyền cơ sở, Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về trách nhiệm người đứng đầu, chất lượng kiểm tra, hồ sơ pháp lý và sự phối hợp với cơ quan chuyên ngành cũng như đơn vị cung cấp điện, nước.

Khi được tổ chức thực hiện nghiêm túc, thống nhất và đúng pháp luật, Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND sẽ góp phần chuyển các quy định của Luật Phát triển đô thị thành công cụ quản trị cụ thể trong đời sống, tăng tính tuân thủ pháp luật, phòng ngừa nguy cơ mất an toàn và củng cố kỷ cương trong quản lý đô thị Thành phố Hồ Chí Minh./.

Châu Vũ - Hải Yến

Tìm kiếm

Xem nhiều

Tin cùng chuyên mục

TỪ THẨM TRA CỦA BAN ĐÔ THỊ HĐND THÀNH PHỐ ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐI VÀO CUỘC SỐNG: MỞ KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ LÒNG ĐẤT

Với Nghị quyết số 58/2026/NQ-HĐND, TP. Hồ Chí Minh lần đầu thiết lập tương đối đầy đủ một khuôn khổ chính sách cho việc quản lý, khai thác và sử dụng không gian ngầm, từ giới hạn độ sâu được sử dụng không phải trả tiền, điều kiện khai thác phần lòng đất sâu hơn, cơ chế xử lý khi chưa có quy hoạch đến các chính sách khuyến khích đầu tư và nghĩa vụ tài chính. Nghị quyết là một bước cụ thể hóa quan trọng Luật Phát triển đô thị, đồng thời mở thêm dư địa phát triển cho một đô thị đặc biệt đang ngày càng chịu sức ép lớn về đất đai, giao thông và hạ tầng.
KHỞI CÔNG DỰ ÁN XÂY DỰNG MỚI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – CƠ SỞ 2 (GIAI ĐOẠN 2)

Ngày 02 tháng 10 năm 2026 – Sở Giáo dục và Đào tạo cùng Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Dân dụng và Công nghiệp tổ chức Lễ khởi công dự án Xây dựng mới Trường Cao đẳng nghề Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 2 (Giai đoạn 2) tại số 48/43 đường Chương Dương, phường Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là dự án có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở vật chất giáo dục nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật cho Thành phố trong giai đoạn mới.
Quy hoạch 100 năm TP.HCM  phải nhìn rừng như một tài sản tự nhiên có giá trị lâu dài

Rừng TP.HCM trải dài từ Cần Giờ, Côn Đảo đến những cánh rừng nội địa, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng gắn với biển, đất ngập nước và không gian đô thị. Rừng chiếm 10,74% diện tích TP.HCM, tương đương 72.720 ha trên tổng diện tích 677.259 ha, gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Các khu rừng phân bố từ ven biển đến nội địa, từ hải đảo đến đất liền; trong đó có những khu đồng thời là Khu Ramsar, Khu Vườn di sản ASEAN và Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Quy hoạch 100 năm không chỉ đặt câu hỏi thành phố sẽ phát triển đến đâu, mà còn phải xác định những không gian tự nhiên nào cần được giữ lại lâu dài.
KIẾN TẠO "THÀNH PHỐ DƯỚI LÒNG ĐẤT": GIÁ TRỊ CHIẾN LƯỢC CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 55/2026/NQ-HĐND ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUY HOẠCH KHÔNG GIAN NGẦM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngày 1 tháng 10 năm 2026 chính thức đánh dấu một cột mốc mang tính lịch sử đối với tiến trình phát triển đô thị tại Việt Nam khi Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16 bắt đầu có hiệu lực thi hành. Đón đầu cơ hội pháp lý mang tính đột phá này, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Nghị quyết số 55/2026/NQ-HĐND quy định về lập, thẩm định, phê duyệt, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch không gian ngầm trên địa bàn Thành phố. Đây không chỉ là bước đi tiên phong nhằm cụ thể hóa luật định, mà còn là "chìa khóa vàng" tháo gỡ những nút thắt kinh niên trong công tác quản lý và phát triển không gian ngầm đô thị – một tài nguyên cực kỳ quý giá nhưng chưa được khai phá tương xứng với tiềm năng của siêu đô thị hơn 10 triệu dân.

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH